Trong hoạt động hành nghề, luật sư được cung cấp 04 nhóm dịch vụ pháp lý, gồm: Tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác (Điều 4 Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (sau đây viết tắt là Luật Luật sư). Tương ứng với các hình thức thực hiện dịch vụ pháp lý nêu trên, phạm vi hành nghề của luật sư được cụ thể tại Điều 22 Luật Luật sư. Trong các nhóm dịch vụ pháp lý, việc luật sư tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng phát sinh những mối quan hệ với với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện công việc. Do đó, pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của luật sư trong các vai trò liên quan.
1. Quyền và nghĩa vụ của luật sư khi tham gia tố tụng
Trong tố tụng, luật sư tham gia với bốn vai trò: (i) Người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự; (ii) hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự; (iii) người đại diện, (iv) hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.
Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư phải tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng và Luật Luật sư (khoản 1 Điều 27). Theo đó, quyền và nghĩa vụ của luật sư khi cung cấp dịch vụ pháp lý tương ứng với vai trò tham gia trong tố tụng được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 73 quyền và nghĩa vụ của người bào chữa; Điều 83. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; Điều 84. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự), Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 76. Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự), Luật tố tụng hành chính quy định cụ thể (6 Điều 61 quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự).
Khi tham gia vào hoạt động tố tụng, luật sư phải thực hiện thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền. Để đăng ký bào chữa, trường hợp là luật sư thì xuất trình các giấy tờ theo quy định tại Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đối với các trường hợp còn lại, thủ tục theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật Luật sư, nghĩa là luật sư xuất trình Thẻ luật sư và giấy yêu cầu luật sư của khách hàng (Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; Điều 75 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 4 Điều 61 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 dẫn chiếu giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật Luật sư).
Ngoài ra, trong tố tụng, luật sư có thể tham gia với vai trò là người đại diện của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật. Cần xác định tính chất của đại diện trong trường hợp này là đại diện theo ủy quyền.
Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền (Điều 85, 86 Bộ luật Dân sự). Khi đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đề nghị phải xuất trình giấy yêu cầu của đương sự và giấy tờ tùy thân (điểm d khoản 4 Điều 75). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 76 Bộ luật tố tụng dân sự. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự (Điều 89).
Trong tố tụng hành chính, người đại diện được thực hiện theo Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2025. Người được ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị kiện theo quy định. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người ủy quyền. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự (khoản 3, 4, 5 Điều 60).
2. Quyền và nghĩa vụ của luật sư khi thực hiện đại diện ngoài tố tụng
Hoạt động đại diện ngoài tố tụng của luật sư được quy định tại Điều 29 Luật Luật sư. Luật sư đại diện cho khách hàng để giải quyết các công việc có liên quan đến việc mà luật sư đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động. Khi đại diện cho khách hàng, luật sư có quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật có liên quan.
Có thể kể đến một số lĩnh vực luật sư thường cung cấp dịch vụ pháp lý đại diện ngoài tố tụng, đó là: khiếu nại, xử lý vi phạm hành chính, thực hiện thủ tục hành chính, giao dịch dân sự.
Thứ nhất, trong khiếu nại. Luật Khiếu nại năm 2011 quy định về việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện (khoản 5 Điều 8). Người khiếu nại có quyền nhờ luật sư tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình (điểm a, b khoản 1 Điều 12 Luật Khiếu nại; khoản 1, 2 Điều 5 Nghị định 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại). Việc ủy quyền phải bằng văn bản và được chứng thực hoặc công chứng. Người ủy quyền được ủy quyền khiếu nại cho một người hoặc nhiều người về các nội dung ủy quyền khác nhau nhưng không được ủy quyền một nội dung cho nhiều người thực hiện. Văn bản ủy quyền khiếu nại được thực hiện theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Nghị định số 124/2020/NĐ-CP (khoản 3 Điều 5 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP).
Quyền, nghĩa vụ của luật sư được quy định tại Điều 16 Luật Khiếu nại. Theo đó, luật sư có các quyền: Tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại theo đề nghị của người khiếu nại; thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại khi được ủy quyền; xác minh, thu thập chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại theo yêu cầu của người khiếu nại và cung cấp chứng cứ cho người giải quyết khiếu nại; nghiên cứu hồ sơ vụ việc, sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước. Đồng thời có cả nghĩa vụ: Xuất trình thẻ luật sư, giấy yêu cầu giúp đỡ về pháp luật hoặc giấy ủy quyền của người khiếu nại; thực hiện đúng nội dung, phạm vi mà người khiếu nại đã ủy quyền; các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Pháp luật về khiếu nại quy định chung về quyền và nghĩa vụ của luật sư. Mặc dù không quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ nêu trên tương ứng với vai trò nào. Tuy nhiên, có thể hiểu quyền và nghĩa vụ được quy định với vai trò luật sư là người đại diện theo ủy quyền. Vì với vai trò là người tư vấn pháp luật thì không có sự tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại với các cơ quan, tổ chức.
Thứ hai, trong thực hiện thủ tục hành chính, Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia, quy định tổ chức, cá nhân được thuê hoặc được ủy quyền thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật (khoản 5 Điều 2 Nghị định số 118/2025/NĐ-CP).
Thứ ba, trong xử phạt vi phạm hành chính, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 quy định “Người đại diện hợp pháp bao gồm cha mẹ hoặc người giám hộ, luật sư, trợ giúp viên pháp lý” (khoản 17 Điều 2). Tại Điều 3 Luật quy định nguyên tắc “Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính”, “Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính”. Người đại diện tham gia vào quá trình xử lý vi phạm hành chính còn tuỳ thuộc vào từng giai đoạn theo quy định cụ thể của Luật và các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Thứ tư, trong giao dịch dân sự, cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Luật sư khi cung cấp dịch vụ pháp lý tùy theo phạm vi thực hiện sẽ có quyền và nghĩa vụ tương ứng được quy định tại văn bản pháp luật. Trong hoạt động tố tụng, quyền và nghĩa vụ theo vai trò tham gia (người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người đại diện) được quy định chi tiết, cụ thể cùng với thủ tục để xác lập vai trò trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong hoạt dộng đại diện ngoài tố tụng, các văn bản chưa quy định cụ thể về phạm vi, hình thức, thủ tục thực hiện, việc áp dụng chủ yếu dựa trên xác định phạm vi ủy quyền theo Giấy/hợp dồng ủy quyền; mức độ tham gia của luật sư trong một số quan hệ được nêu như khiếu nại, xử lý vi phạm hành chính. Hình thức, thủ tục để xác lập vai trò của luật sư thiếu cụ thể, chỉ có khiếu nại quy định văn bản ủy quyền phải có công chứng/chứng thực và khi tham gia thì phải xuất trình giấy tờ liên quan. Để bảo đảm tính xác thực trong quan hệ ủy quyền, thiết nghĩ cần có quy định cụ thể hơn quyền, nghĩa vụ của luật sư trong tham gia các quan hệ ngoài tố tụng để thuận lợi, thống nhất trong áp dụng pháp luật./.
