Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là khâu "gác cổng" quan trọng, giúp đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo văn bản. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong những năm qua, Sở Tư pháp đã tích cực tham mưu Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố thực hiện tốt công tác thẩm định các dự thảo quyết định kịp thời, nghị quyết quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân thành phố.
Trước yêu cầu về công tác xây dựng pháp luật, nhất là thực hiện chính quyền địa phương hai cấp như hiện nay, gắn với các chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Bộ chính trị như Nghị quyết 68 – NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 57-NQ/TW về khoa học công nghệ, Nghị quyết 59 -NQ/TW về quan hệ quốc tế, đặc biệt là Nghị quyết 66-NQ/TW của Bộ chính trị về xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Tại địa phương, từ ngày 01/01/2025, việc thành phố Huế là trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, các yêu cầu về xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng dụng pháp luật cũng cần đặc biệt quan tâm.
Trong nhiệm kỳ qua, thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; công tác xây dựng pháp luật có những đổi mới mang tính đột phá; đã hoàn thành tham mưu khối lượng nhiệm vụ lớn nhất từ trước đến nay, góp phần tháo gỡ nhiều “điểm nghẽn”, “nút thắt” về thể chế, pháp luật, khơi thông nguồn lực phát triển, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố. Trong nhiệm kỳ đã ban hành 08 nghị quyết đặc thù của thành phố: Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐND ngày 25/01/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐND ngày 25/01/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Quy định một số chính sách hỗ trợ di dời các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vào cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025; Nghị quyết số 18/2022/NQ-HĐND ngày 07/9/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh về thí điểm một số chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyển container và các đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container đi, đến cảng Chân Mây tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghị quyết số 26/2022/NQ-HĐND ngày 08/12/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ, bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn đặc trưng, nhà rường cổ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghị quyết số 33/2022/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chính sách thu hút nguồn nhân lực bác sĩ cho ngành Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế, giai đoạn 2023 – 2025; Nghị quyết số 30/2023/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định nội dung chi và mức chi cho công tác Y tế - Dân số trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2023 – 2025; Nghị quyết số 53/2025/NQ-HĐND ngày 25/12/2025 Quy định chính sách hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố Huế giai đoạn 2026 – 2030.
Với sự quyết liệt, chủ động, nỗ lực của các sở, ban, ngành, việc triển khai chương trình văn bản hằng năm được thực hiện bài bản; hồ sơ dự thảo quyết định, nghị quyết được chuẩn bị cơ bản đầy đủ, chất lượng, tuân thủ trình tự, thủ tục luật định; công tác lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) ngày càng thực chất và cầu thị. Trong nhiệm kỳ, các sở, ban, ngành đã tham mưu UBND, Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố thông qua khối lượng văn bản lớn nhất từ trước đến nay với 658 văn bản quy phạm pháp luật gồm 243 Nghị quyết của HĐND thành phố, 412 Quyết định của UBND thành phố và 3 Quyết định của Chủ tịch UBND thành phố, (riêng năm 2025 HĐND ban hành 55 nghị quyết, UBND đã ban hành 134 quyết định và Chủ tịch UBND ban hành 04 quyết định, có thể thấy rằng năm 2025 số VBQPPL được ban hành nhiều nhất trong cả nhiệm kỳ).
Công tác thẩm định hồ sơ chính sách, dự thảo VBQPPL được chú trọng nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ, nhiều trường hợp vượt tiến độ theo quy định; các báo cáo thẩm định được cấp có thẩm quyền đánh giá cao, góp phần nâng cao chất lượng chính sách, dự thảo VBQPPL, nổi bật là khẩn trương thẩm định đối với những VBQPPL liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, ủy quyền phục vụ cuộc “cách mạng” về tinh gọn bộ máy, xây dựng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Bên cạnh công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL, công tác kiểm tra, rà soát hệ thống hóa văn bản cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo hệ thống văn bản QPPL của thành phố phù hợp với quy định của Trung ương cũng như gắn với sự phát triển kinh tế của địa phương, trực tiếp góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính. Đặc biệt, là từ khi có Luật Ban hành văn bản QPPL, hệ thống thể chế của thành phố ngày càng được hoàn thiện, chất lượng văn bản được nâng lên, văn bản có dấu hiệu sai sót về thẩm quyền và nội dung ngày càng giảm mạnh. Việc xử lý văn bản sau kiểm tra đã được thực hiện kịp thời, nghiêm túc, các văn bản QPPL có sai sót về nội dung đều được cơ quan có thẩm quyền xử lý theo đúng quy định.
Có thể nói trong nhiệm kỳ 5 năm nói chung, năm 2025 nói riêng, các sở, ngành và cơ quan Tư pháp đã bám sát các Luật, văn bản của Trung ương trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của các sở, ngành được giao quy định chi tiết cho chính quyền địa phương; bám sát các nghị quyết cho chủ trương của Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố, chương trình công tác ban hành hằng năm của Uỷ ban nhân dân thành phố. Cùng với nỗ lực thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ thường xuyên, Sở Tư pháp đã tập trung thẩm định những vấn đề mới phát sinh; chủ động, khẩn trương xác định các nhiệm vụ công tác thẩm định, xây dựng là công tác trọng tâm, tập trung nguồn lực để tổ chức thực hiện toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ được giao trong nhiệm kỳ vừa qua.
Một số tồn tại, hạn chế
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thẩm định VBQPPL vẫn còn một số tồn tại hạn chế nhất định, đó là:
Một là, việc tuân thủ quy trình xây dựng văn bản QPPL của một số cơ quan tham mưu chưa thực sự nghiêm túc; chất lượng đề nghị xây dựng văn bản QPPL và chất lượng dự thảo chưa cao, thiếu đầu tư và chưa khoa học; chưa chú trọng làm rõ căn cứ, cơ sở pháp lý và thực tiễn để đề nghị xây dựng pháp luật, phải đề nghị điều chỉnh nhiều lần, có dự thảo phải thẩm định, rà soát lần thứ hai, thứ ba, dẫn đến làm chậm tiến độ ban hành văn bản.
Hai là, hiệu quả huy động tham gia ý kiến xây dựng pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa đáp ứng yêu cầu, quan điểm “xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính trí tuệ tập thể”; không ít cơ quan chưa thực hiện hết trách nhiệm trong phối hợp xây dựng văn bản (nội dung góp ý đa số là nhất trí, hình thức, thậm chí thiếu thống nhất, dẫn đến có văn bản phải lấy lại ý kiến nhiều lần của cùng một cơ quan).
Ba là, các cơ quan chưa quan tâm đến việc tổ chức đánh giá chính sách. Thực tế cho thấy rất ít chính sách được tổ chức đánh giá một cách nghiêm túc; đánh giá chính sách đôi khi mang tính một chiều, chỉ phản ánh nhận xét các cơ quan nhà nước mà chưa quan tâm đến sự phản hồi từ xã hội, từ những đối tượng mà chính sách hướng vào.
Bốn là, một số cơ quan soạn thảo gửi hồ sơ thẩm định sát ngày họp, gây áp lực về thời gian cho cơ quan thẩm định.
Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thật sự của pháp luật đúng với chức năng, vai trò của nó trong đời sống xã hội của nhà nước pháp quyền đang đặt ra hết sức cấp thiết và có ý nghĩa thật sự lớn lao. Trong giai đoạn tới, cần bám sát định hướng cơ bản tại các Nghị quyết của Bộ Chính trị như Nghị quyết 68 – NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 57 NQ/TW về khoa học công nghệ, Nghị quyết 59 -NQ/TW về quan hệ quốc tế, đặc biệt là Nghị quyết 66 NQ/TW của Bộ chính trị về xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và văn bản chỉ đạo của HĐND, UBND thành phố về thực hiện chỉ số cải thiện các quy định của pháp luật là “không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; gắn kết chặt chẽ, đồng bộ giữa nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật; đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh trên địa bàn thành phố”; tập trung các nguồn lực để đảm bảo tiến độ xây dựng những dự thảo văn bản QPPL được phân công chủ trì soạn thảo, đặc biệt là các văn bản quy định chi tiết và nghị quyết của HĐND thành phố. Việc xây dựng phải đảm bảo đúng quy trình tại Luật Ban hành văn bản QPPL và các nghị định hướng dẫn thi hành. Trường hợp không thể bảo đảm tiến độ, phải kịp thời báo cáo, nêu rõ lý do để HĐND, UBND thành phố xem xét, quyết định. Không xem xét khen thưởng đối với những đơn vị không đảm bảo tiến độ, để xảy ra tình trạng nợ đọng văn bản.
Xuất phát từ quan điểm đó, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:
Một là, các sở, ban, ngành cần tập trung nguồn lực và điều kiện khác bảo đảm thực hiện hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng các nhiệm vụ xác định trong Kế hoạch xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL hằng năm của UBND thành phố.
Hai là, tiếp tục đề cao vai trò của thủ trưởng các cơ quan có trách nhiệm tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết. Cụ thể: bảo đảm kỷ luật, kỷ cương xây dựng, ban hành VBQPPL, đặc biệt là tuân thủ quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL; chủ động rà soát, phát hiện nội dung giao quy định chi tiết và kịp thời tham mưu xây dựng, ban hành VBQPPL; tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc ban hành văn bản quy định chi tiết trong nội bộ cơ quan; thực hiện đồng bộ các giải pháp khác nhằm bảo đảm chất lượng, tăng cường tiến độ xây dựng, ban hành văn bản; kiểm điểm xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc không bảo đảm tiến độ, chất lượng của văn bản. Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị tham mưu chủ động tham gia góp ý có trách nhiệm vào các đề nghị, dự thảo VBQPPL có liên quan đến nội dung ngành, lĩnh vực quản lý.
Ba là, tăng cường trách nhiệm của Sở Tư pháp trong việc theo dõi, đôn đốc các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố tổ chức thực hiện danh mục văn bản quy định chi tiết; thường xuyên theo dõi, cập nhật tiến độ ban hành văn bản quy định chi tiết của các cơ quan chủ trì soạn thảo; kịp thời báo cáo Chủ tịch UBND thành phố để chỉ đạo, xử lý đối với việc chậm trễ xây dựng, ban hành văn bản cũng như các vấn đề phát sinh; chủ động hướng dẫn ban hành văn bản quy định chi tiết theo trường hợp rút gọn. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết với các cơ quan đơn vị có liên quan, với Sở Tư pháp và các tổ chức pháp chế, công chức pháp chế để bảo đảm tiến độ, chất lượng của văn bản.
Bốn là, tăng cường trách nhiệm của Văn phòng UBND thành phố trong việc tham mưu ý kiến đề nghị xây dựng VBQPPL; kiểm soát chặt chẽ hồ sơ trình ban hành VBQPPL theo quy định; chủ động kết hợp tham mưu triển khai VBQPPL của trung ương mới ban hành với rà soát, giao nhiệm vụ xây dựng văn bản quy định chi tiết, nếu có.
Năm là, nâng cao năng lực, chất lượng hoạt động thẩm định của Sở Tư pháp, hội đồng tư vấn thẩm định. Tiếp tục và tạo điều kiện phát huy hiệu quả cơ chế thẩm định thông qua Hội đồng và cuộc họp tư vấn để huy động trí tuệ, kinh nghiệm của các nhà khoa học, chuyên gia các ngành, lĩnh vực có liên quan, giúp đưa ra ý kiến phản biện chính xác, khách quan hơn, bảo đảm tính đồng bộ, tính khả thi của văn bản QPPL sau khi được ban hành.
Sáu là, phát huy hơn nữa sự tham gia của nhân dân, huy động trí tuệ của chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, sự phản biện từ các tổ chức xã hội, từ các phương tiện thông tin đại chúng vào quá trình xây dựng, thẩm định, kiểm tra văn bản QPPL. Thực hiện nghiêm việc đăng tải dự thảo văn bản trên Cổng thông tin điện tử của thành phố theo quy định, xác định rõ nội dung lấy ý kiến; kiến nghị HĐND, UBND thành phố bảo đảm đủ kinh phí phục vụ công tác này.
Bảy là, tiếp tục kiện toàn và đổi mới về tổ chức, người làm công tác xây dựng pháp luật. Theo đó, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố cần thực hiện nghiêm việc bố trí đủ và đúng người làm công tác pháp chế theo quy định; tạo mọi điều kiện để tổ chức pháp chế, công chức chuyên trách hoàn thành tốt các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện pháp luật.
