Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã luôn quan tâm, coi trọng chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật. Đặc biệt, công tác xây dựng và thi hành pháp luật là đột phá của đột phá trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước và là nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác phòng, chống tham nhũng, đặc biệt, trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, ngày 27/6/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 178-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật. Điều này thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước trong việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường kiểm soát và phòng ngừa các nguy cơ tham nhũng trong tất cả các giai đoạn của quy trình xây dựng pháp luật. Trong kỷ nguyên mới, với những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng pháp luật, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định hiện hành về phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật và đề xuất các giải pháp là thực sự cần thiết nhằm thể chế hóa sâu, rộng, hiệu quả các chủ trương của Đảng trong thực tiễn.
- Một số kết quả đạt được
Thứ nhất, về hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật: trong thời gian qua, Đảng ủy Sở Tư pháp đã quan tâm, chủ động chỉ đạo Sở tư pháp tập trung tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành các Kế hoạch số 472/KH-UBND ngày 27/12/2024 về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực năm 2025; Kế hoạch số 81/KH-UBND ngày 18/02/2025 về triển khai thực hiện Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 13/01/2024 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật trên địa bàn thành phố Huế; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 14/3/2025 về triển khai thực hiện Quy định số 189-QĐ/TW ngày 08/10/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; Kế hoạch số 229/KH-UBND ngày 22/5/2025 về triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về đẩy mạnh phân quyền, phân cấp theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Kế hoạch số 375/KH-UBND ngày 05/9/2025 triển khai thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15 ngày 24/6/2025 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; Công văn số 14202/UBND-CCHC ngày 28/12/2024 về việc thường xuyên rà soát văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo tinh thần Quyết định 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị để triển khai thực hiện, qua đó, nhận thức về tầm quan trọng của việc phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật đã được nâng lên.
Thư hai: Về rà soát văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện sơ hở, bất cập có nguy cơ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm cục bộ trong văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung theo tinh thần của Quy định số 178-QĐ/TW
Từ 01/01/2025 đến 20/12/2025, Sở Tư pháp đã thực hiện rà soát và đề xuất phương án xử lý 191 văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND các cấp ban hành theo định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 (cấp tỉnh: 72 văn bản (08 Nghị quyết, 64 Quyết định); Cấp huyện: 102 văn bản (03 Nghị quyết, 99 Quyết định); Cấp xã: 17 văn bản (12 Nghị quyết, 05 Quyết định); rà soát 248[1] văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND và 196[2] văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện chịu sự tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy; rà soát 40 văn bản liên quan đến lĩnh vực giao dịch điện tử, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, an toàn thông tin mạng, dữ liệu, giao thông vận tải theo yêu cầu của Bộ, ngành trung ương; rà soát các vướng mắc liên quan đến Luật Đất đai; Báo cáo kết quả rà soát, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật để tháo gỡ khó khăn vướng mắc do quy định của pháp luật; Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Kế hoạch hoạt động năm 2025 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật.
Đã tiến hành rà soát để sửa đổi, bổ sung, thay thế, ban hành mới 08 Quyết định có quy định liên quan đến phân cấp thẩm quyền của Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố; 32 Quyết định liên quan đến việc sắp xếp bộ máy hành chính và tổ chức chính quyền hai cấp. Đến nay, chưa phát hiện sơ hở, bất cập có nguy cơ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm cục bộ trong văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ ba: Thực hiện kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; giám sát việc thực hiện công tác xây dựng pháp luật bảo đảm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật
Hiện nay, hệ thống pháp luật quy định một quy trình chặt chẽ bảo đảm sự phối hợp, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền từ khâu lập đề nghị xây dựng pháp luật, thông qua chính sách, đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra đến ban hành, công khai văn bản quy phạm pháp luật. Công tác xây dựng pháp luật tại địa phương ngày càng được quan tâm, coi trọng. Trên cơ sở Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, ngày 17/5/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 197/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật và Chính phủ đã có Nghị định số 289/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 hướng dẫn Nghị quyết 197/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Chủ tịch UBND thành phố đã ban hành Công văn số 11222/UBND-CCHC ngày 18/8/2025 về việc hướng dẫn quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND và Chủ tịch UBND thành phố; ban hành các kế hoạch liên quan đến xây dựng, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật; hằng năm ra soát danh mục văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực liên quan đến ngành; thực hiện nghiêm túc việc lấy ý kiến của các sở, ban, ngành, các phòng chuyên môn trực thuộc, UBND các xã, phường, các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hóa về đối tượng, phương thức tham gia phản biện, góp ý kiến xây dựng pháp luật trước khi trình cấp có thẩm quyền ban hành theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; thực hiện việc công khai văn bản quy phạm pháp luật theo quy định để các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm có thể giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện và cho ý kiến đối với các bất cập trong quá trình triển khai thực hiện, trên cơ sở đó tiếp thu ý kiến, giải trình và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản để bổ sung, thay thế, hủy bỏ nhằm hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và các quy định có liên quan, bảo đảm đúng quy trình, thủ tục, không để xảy ra sai sót, tiêu cực. Từ ngày 01/01/2025 đến hết ngày 20/12/2025, Sở Tư pháp tiếp nhận và thực hiện góp ý 242 dự thảo văn bản; thực hiện thẩm định 200 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. UBND thành phố ban hành 130 Quyết định, Chủ tịch UBND thành phố ban hành 02 Quyết định và HĐND thành phố thông qua 43 Nghị quyết, trong đó, Sở Tư pháp đã tham mưu 05 quyết định và 01 nghị quyết. Việc phòng ngừa, ngăn chặn phòng, chống tham nhũng đã được thực hiện trong quá trình góp ý, thẩm định thảo văn bản quy phạm pháp luật và được quy định lồng ghép tại các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và UBND thành phố ban hành. Quá trình góp ý, kiến nghị luôn bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, dựa trên cơ sở pháp lý và thực tiễn, tuyết đối không để bị chi phối bởi lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm hay những tác động ngoài pháp luật.
2. Một số hạn chế, vướng mắc
Thứ nhất, một số cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất đưa vào chương trình các dự thảo nghị quyết và quyết định quy phạm pháp luật (QPPL) chưa đủ căn cứ, chưa thực sự cần thiết, hồ sơ đề nghị chuẩn bị sơ sài, không đầy đủ hồ sơ theo quy định. Bên cạnh đó, còn có sự lạm dụng việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Một số văn bản khi đề xuất xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn có phạm vi nội dung ít hoặc đơn giản, tuy nhiên, trong quá trình xây dựng cơ quan chủ trì soạn thảo lại đề xuất mở rộng phạm vi điều chỉnh nên các nội dung mới làm ảnh hưởng đến chất lượng dự thảo văn bản.
Thứ hai, một số báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành các quy định pháp luật chưa đánh giá kỹ thực trạng; báo cáo đánh giá tác động chính sách chưa xác định rõ vấn đề cần giải quyết, mục tiêu của chính sách, giải pháp để thực hiện chính sách, nội dung đánh giá tác động còn thiếu thông tin, số liệu đáng tin cậy, chủ yếu sử dụng phương pháp định tính; hoặc còn phụ thuộc vào các báo cáo rà soát quy định pháp luật có liên quan đến lĩnh vực quản lý.
Thứ ba, một số trường hợp tổ chức lấy ý kiến dự thảo văn bản QPPL còn hình thức, thủ tục, chưa có trọng tâm; không bảo đảm đúng thời hạn luật định; không lấy ý kiến đầy đủ của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Việc phản hồi ý kiến góp ý chưa được chú trọng, chất lượng ý kiến đóng góp nhìn chung chưa cao, nhất là đối với những vấn đề mới, phức tạp, còn nhiều tranh luận.
Thứ tư, trình độ, kỹ năng của một số công chức, người được giao trách nhiệm tham mưu chính sách, pháp luật, thể chế chưa ngang tầm với yêu cầu của công việc. Việc đầu tư vào xây dựng pháp luật, thể chế chưa được coi là đầu tư phát triển để có chủ trương đầu tư thỏa đáng, nhất là đầu tư cho giai đoạn xây dựng chính sách, soạn thảo văn bản. Chính sách tiền lương và thu nhập chưa hấp dẫn để huy động các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành đóng góp vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật còn một số tồn tại, hạn chế.
Một số kiến nghị, giải pháp
Thứ nhất, tăng cường chế tài về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác xây dựng pháp luật, cần cá thể hóa trách nhiệm, tránh quy định trách nhiệm chung chung, trách nhiệm tập thể. Mặt khác, phải có cơ chế và quy định bảo vệ, khuyến khích những người dám nghĩ, dám làm, bứt phá, đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp chung, không ngại va chạm, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.
Thứ hai, khắc phục sơ hở, bất cập trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, đặc biệt là những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; thu, chi ngân sách; đầu tư xây dựng; tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan; các chế độ, định mức, tiêu chuẩn... Trên cơ sở Nghị quyết số 197/2025/QH15, các bộ, ngành, địa phương cần khẩn trương rà soát tổng thể các quy định pháp luật, phát hiện các quy định tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tiêu cực, tham nhũng để có cơ chế xử lý, khắc phục kịp thời.
Thứ ba, minh bạch, cắt giảm các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh, rà soát danh mục, giảm bớt các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2025 cần quy định riêng quy trình ban hành, sửa đổi các văn bản QPPL có chứa quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính so với các văn bản pháp luật khác; cần bổ sung đánh giá tác động chính sách về nguy cơ tham nhũng; đối thoại, lấy ý kiến rộng rãi người dân, doanh nghiệp trực tiếp liên quan đến các văn bản QPPL này.
Thứ tư: Tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật để nâng cao hiệu quả, giảm thiểu các thủ tục hành chính rườm rà, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tham gia hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh.
Trước yêu cầu cần phải có các chủ trương, quyết sách mạnh mẽ mang tính chiến lược về xây dựng, hoàn thiện thể chế, nhất là xây dựng và thi hành pháp luật nhằm phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển, minh bạch chặt chẽ là yếu tố cốt lõi trong phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật được đặt ra và trở nên cấp thiết hơn. Đây là nhiệm vụ khó khăn nhưng vô cùng quan trọng. Phòng, chống tham nhũng trong công tác xây dựng pháp luật thành công sẽ góp phần xây dựng hệ thống pháp luật trong sạch, hiệu lực, hiệu quả cũng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống pháp luật.
