
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Công nghệ cao (Luật số 133/2025/QH15) quy định về hoạt động công nghệ cao, chính sách, biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động công nghệ cao và các hoạt động liên quan đến phát triển công nghệ chiến lược. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Theo đó, công nghiệp công nghệ cao là ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao và cung ứng dịch vụ công nghệ cao; công nghiệp chiến lược là ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược và cung ứng dịch vụ công nghệ chiến lược.
Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ chiến lược được hưởng các chính sách thúc đẩy phát triển, gồm:
1. Sản xuất sản phẩm công nghệ cao, sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược và sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư trong Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.
2. Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, lao động, nhà ở, xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, cấp giấy phép lao động và được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Doanh nghiệp quy định tại Điều 15 của Luật này được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ như sau:
a) Doanh nghiệp công nghệ chiến lược được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai, chính sách quy định (gồm: Được xét giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, từ các quỹ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Được hưởng cơ chế đặc biệt trong giải mã công nghệ, mua bí quyết công nghệ quy định tại Điều 31 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo) và chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo quy định của pháp luật về đầu tư;
b) Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai và các chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan;
c) Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2 được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai và chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan;
d) Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
4. Doanh nghiệp quy định tại Điều 15 của Luật này được áp dụng cơ chế chấp nhận rủi ro theo quy định tại Điều 9 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chiến lược được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ sau đây:
1. Được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo các quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai và chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan;
2. Phát triển thị trường và hệ sinh thái công nghệ cao, công nghệ chiến lược; có cơ chế đặt hàng, ưu đãi trong đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu; ưu tiên đầu tư, thuê, mua sắm sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao, công nghệ chiến lược sử dụng ngân sách nhà nước;
2. Được hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực, nâng cao kỹ năng số, quản trị công nghệ cho doanh nghiệp và người lao động theo quy định của pháp luật có liên quan./.











