
Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước 2025 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2026. Luật gồm 5 chương, 28 điều, quy định nghiêm ngặt về xác định, bảo vệ, và trách nhiệm quản lý thông tin chưa công khai, có thể gây nguy hại cho quốc gia nếu bị lộ. Luật cho phép ứng dụng AI trong bảo vệ bí mật nhưng nghiêm cấm các hành vi làm lộ, mua bán, hoặc làm sai lệch thông tin.
Luật quy định bảo vệ bí mật nhà nước là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân; việc quản lý, sử dụng bí mật nhà nước bảo đảm đúng mục đích, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; bí mật nhà nước được bảo vệ theo thời hạn quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo quy định của pháp luật. Đã bổ sung 02 khái niệm mới, gồm:
Khái niệm "Mạng LAN độc lập": Luật quy định "Mạng LAN độc lập" là mạng máy tính cục bộ được thiết lập, giới hạn trong một trụ sở cơ quan, tổ chức, không kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông, mạng máy tính khác có kết nối ra ngoài trụ sở đó và có biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống kết nối, tấn công, thu thập thông tin trái phép. Đây là quy định mới được bổ sung tại Luật để thống nhất cách hiểu về "Mạng LAN độc lập" dùng để soạn thảo, lưu giữ, gửi, nhận bí mật nhà nước trong cơ quan, tổ chức.
Khái niệm "Văn bản điện tử bí mật nhà nước": Luật quy định "Văn bản điện tử bí mật nhà nước" là văn bản chứa bí mật nhà nước dưới dạng dữ liệu số được người có thẩm quyền theo quy định của Luật này xác định. Việc bổ sung khái niệm "Văn bản điện tử bí mật nhà nước" nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn hiện nay khi các ban, bộ, ngành, địa phương tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác bảo vệ bí mật nhà nước, tiến tới không sử dụng tài liệu bí mật nhà nước là bản giấy.
Luật sửa đổi khái niệm bí mật nhà nước theo hướng được người có thẩm quyền xác định thay vì quy định cứng là người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhằm bảo đảm tính khả thi và thực tiễn công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật, người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Đồng thời, bổ sung hình thức chứa bí mật nhà nước bao gồm tài liệu là bản giấy và văn bản điện tử để bao quát cả dữ liệu số, dữ liệu điện tử.
Luật Chuyển đổi số năm 2025 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 01 tháng 12 năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Luật gồm 08 chương, 48 điều; quy định về nguyên tắc, chính sách, cơ chế điều phối và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt độngchuyển đổi số; làm rõ các nội dung trọng tâm về chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số, nền tảng số, quy trình số nhằm tạo ra giá trị mới, hiệu quả và minh bạch. Luật Chuyển đổi số tập trung xử lý 04 nhóm vấn đề lớn, có ý nghĩa nền tảng đối với tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Thể chế hóa kịp thời các chủ trương lớn của Đảng (Nghị quyết 57-NQ/TW ) về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xác định xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.
Thiết lập hành lang pháp lý thống nhất để hình thành quốc gia số, trên cơ sở kết nối hệ thống pháp luật chuyên ngành hiện hành và bổ sung các cấu phần còn thiếu, hoàn thiện kiến trúc quốc gia số. Luật hóa các hoạt động số, hoàn thiện hành lang pháp lý chuẩn mực để triển khai Chính phủ số, Kinh tế số, Xã hội số do trước đây chủ yếu được triển khai theo các văn bản chỉ đạo, điều hành.
Xác lập cấu trúc quản trị, đảm bảo sự điều phối nhịp nhàng giữa các bộ, ngành, địa phương trên toàn quốc; đảm bảo nguồn lực tài chính, Luật quy định tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hằng năm dành cho chuyển đổi số.
Kế thừa và phát triển: Tiếp nối các quy định phù hợp của Luật Công nghệ thông tin (sẽ hết hiệu lực khi Luật mới có hiệu lực), đảm bảo không tạo ra khoảng trống pháp lý../.











