Sau hơn 9 năm thi hành, Bộ luật dân sự năm 2005 cơ bản đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản giữa các chủ thể trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động... Tuy nhiên, Bộ luật dân sự hiện hành còn có những bất cập, hạn chế như chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm bình đẳng giới thực chất cho cá nhân, cụ thể như: Chưa bảo đảm nguyên tắc quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế bởi luật trong những trường hợp đặc biệt như Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận; một số quy định về cá nhân, giao dịch dân sự, đại diện, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế còn chưa thực sự bảo đảm tính khả thi về bình đẳng giới; chưa tạo được cơ chế pháp lý hữu hiệu để bảo vệ quyền, lợi ích của bên thứ ba ngay tình, của bên thiện chí, bên yếu thế trong quan hệ dân sự… Hạn chế này lại càng biểu hiện rõ nét trong bối cảnh hiện nay khi mà Hiến pháp năm 2013 đã đặt ra nhiều yêu cầu mới trong việc bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân ở nước ta. Thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy, do yếu tố về văn hóa, tập quán truyền thống và vị thế kinh tế thì người phụ nữ dễ trở thành bên yếu thế trong quan hệ dân sự.
Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) (sau đây gọi tắt là dự thảo Bộ luật) bao gồm 712 điều được bố cục thành 6 phần, 26 chương. So với Bộ luật Dân sự năm 2005, dự thảo Bộ luật giữ nguyên 265 điều, sửa đổi 298 điều, bổ sung 176 điều điều và bãi bỏ 147 điều. Dự thảo Bộ luật gồm những điểm mới cơ bản sau:
Quá trình triển khai thực hiện các quy định về báo cáo viên pháp luật theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Thông tư số 21/2013/TT-BTP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tư pháp về trình tự, thủ tục công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật; công nhận, cho thôi làm tuyên truyền viên pháp luật và một số biện pháp bảo đảm hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật (sau đây gọi tắt là Thông tư số 21/2013/TT-BTP), phát sinh một số vướng mắc cần được giải thích, làm rõ.
Sơ yếu lý lịch là những thông tin về nhân thân, về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh chính trị-xã hội, trình độ văn hóa chuyên môn, quá trình tham gia công tác, ... của công dân. Ở một góc độ khác lý lịch của một người còn thể hiện lịch sử chính trị và chính trị hiện nay của bản thân họ. Sơ yếu lý lịch thường được sử dụng vì mục đích học tập, xin việc làm hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội, do vậy sơ yếu lý lịch cần phải ghi đầy đủ diễn biến quá trình hoạt động, công tác của công dân và những người có liên quan trực tiếp như cha, mẹ, anh chị em ruột… đến thời điểm nhất định và trong nhiều trường hợp chỉ có giá trị khi có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong nền kinh tế thị trường, các quyền tài sản ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một doanh nghiệp. Việc sử dụng nguồn tài sản này vào việc bảo đảm cho các quan hệ tín dụng sẽ góp phần thúc đẩy đáng kể tăng trưởng của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Mặc dù thế chấp quyền tài sản không phải là một biện pháp bảo đảm mới ở Việt Nam, song do chưa có quy định cụ thể nên không ít ngân hàng thương mại, các tổ chức hành nghề công chứng còn lúng túng khi giao kết hoặc công chứng các hợp đồng bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản.
Qua 03 năm thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản (gọi là Nghị định số 17/2010/NĐ-CP), hoạt động bán đấu giá tài sản đã đạt được những kết quả đáng kể, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc củng cố và phát triển các tổ chức bán đấu giá tài sản tại địa phương, xã hội hóa hoạt động bán đấu giá tài sản, góp phần thống nhất pháp luật về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này. Cùng với sự phát triển của hoạt động bán đấu giá tài sản, công tác quản lý nhà nước cũng được chú trọng và cần được tăng cường.
Thực hiện Quyết định số 1110/QĐ-UBND ngày 11 tháng 6 năm 2013 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch tổng thể triển khai Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, Sở Tư pháp đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, kết quả khảo sát nhận thấy:
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (gọi tắt là Luật năm 2008) và Luật ban hành văn bản văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 (gọi tắt là Luật năm 2004) ra đời đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL của các cơ quan nhà nước Trung ương và các cấp chính quyền địa phương. Tuy nhiên, việc tồn tại song song hai văn bản Luật cùng điều chỉnh một hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập và mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến tính khả thi và hiệu lực thực tế trong quá trình áp dụng, cụ thể như sau:
Thông tư liên tịch số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 73) cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, một số nội dung khi áp dụng vào thực tiễn còn vướng mắc, trong đó có chế độ của Báo cáo viên pháp luật.
