Sơ yếu lý lịch là những thông tin về nhân thân, về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh chính trị-xã hội, trình độ văn hóa chuyên môn, quá trình tham gia công tác, ... của công dân. Ở một góc độ khác lý lịch của một người còn thể hiện lịch sử chính trị và chính trị hiện nay của bản thân họ. Sơ yếu lý lịch thường được sử dụng vì mục đích học tập, xin việc làm hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội, do vậy sơ yếu lý lịch cần phải ghi đầy đủ diễn biến quá trình hoạt động, công tác của công dân và những người có liên quan trực tiếp như cha, mẹ, anh chị em ruột… đến thời điểm nhất định và trong nhiều trường hợp chỉ có giá trị khi có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong nền kinh tế thị trường, các quyền tài sản ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một doanh nghiệp. Việc sử dụng nguồn tài sản này vào việc bảo đảm cho các quan hệ tín dụng sẽ góp phần thúc đẩy đáng kể tăng trưởng của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Mặc dù thế chấp quyền tài sản không phải là một biện pháp bảo đảm mới ở Việt Nam, song do chưa có quy định cụ thể nên không ít ngân hàng thương mại, các tổ chức hành nghề công chứng còn lúng túng khi giao kết hoặc công chứng các hợp đồng bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản.
Qua 03 năm thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản (gọi là Nghị định số 17/2010/NĐ-CP), hoạt động bán đấu giá tài sản đã đạt được những kết quả đáng kể, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc củng cố và phát triển các tổ chức bán đấu giá tài sản tại địa phương, xã hội hóa hoạt động bán đấu giá tài sản, góp phần thống nhất pháp luật về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này. Cùng với sự phát triển của hoạt động bán đấu giá tài sản, công tác quản lý nhà nước cũng được chú trọng và cần được tăng cường.
Thực hiện Quyết định số 1110/QĐ-UBND ngày 11 tháng 6 năm 2013 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch tổng thể triển khai Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, Sở Tư pháp đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, kết quả khảo sát nhận thấy:
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (gọi tắt là Luật năm 2008) và Luật ban hành văn bản văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 (gọi tắt là Luật năm 2004) ra đời đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL của các cơ quan nhà nước Trung ương và các cấp chính quyền địa phương. Tuy nhiên, việc tồn tại song song hai văn bản Luật cùng điều chỉnh một hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập và mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến tính khả thi và hiệu lực thực tế trong quá trình áp dụng, cụ thể như sau:
Thông tư liên tịch số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 73) cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, một số nội dung khi áp dụng vào thực tiễn còn vướng mắc, trong đó có chế độ của Báo cáo viên pháp luật.
Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Bộ luật Dân sự giữ vị trí đặc biệt quan trọng, điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ xã hội là các giao lưu dân sự của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. BLDS đã phát huy vai trò to lớn, đáp ứng yêu cầu của đất nước cũng như phục vụ hội nhập quốc tế, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước trên tinh thần quán triệt các Nghị quyết của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, đã bộc lộ những quy định thiếu thống nhất với quy định của các luật có liên quan.
Ngày 23/7/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP quy định về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP). Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2012 và quy định một số nội dung mới cơ bản như sau:
Pháp luật Việt Nam quy định về độ tuổi trong các lĩnh vực dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình,...Trong đó có độ tuổi trẻ em. Tuy nhiên, giữa các quy định của pháp luật Việt Nam với công ước Quốc tế về quyền trẻ em về vấn đề xác định độ tuổi của trẻ em còn mâu thuẩn; mặt khác ngay cả các quy đinh của pháp luật Việt Nam về tuổi trẻ em trong các lĩnh vực còn thiếu thống nhất nên rất khó trong quá trình thực hiện, chưa bảo vệ được đầy đủ các quyền trẻ em được pháp luật Quốc tế ghi nhận.
