
1. Bổ sung quy định về nguyên tắc và hình thức thực hiện trách nhiệm giải trình
Nghị định bổ sung Điều 3a và Điều 3b vào sau Điều 3 của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP, quy định cụ thể về nguyên tắc và hình thức thực hiện trách nhiệm giải trình.
Theo đó, việc giải trình phải bảo đảm các yêu cầu về tính chính xác, đầy đủ, khách quan, kịp thời, công khai và minh bạch; đồng thời phải gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.
Về hình thức thực hiện, trách nhiệm giải trình được tiến hành thông qua hai hình thức gồm: giải trình trực tiếp tại cuộc họp, buổi làm việc và giải trình bằng văn bản, bao gồm cả văn bản điện tử.
Nghị định số 184/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 5a vào sau Điều 5 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định về 7 hành vi vi phạm về trách nhiệm giải trình như sau:
1. Không thực hiện giải trình khi có yêu cầu hợp pháp.
2. Cố ý giải trình không đầy đủ, không trung thực.
3. Cố ý kéo dài thời gian giải trình.
4. Cung cấp thông tin sai lệch, che giấu thông tin hoặc cản trở việc thực hiện yêu cầu giải trình.
5. Cá nhân thực thi nhiệm vụ, công vụ không báo cáo người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị về yêu cầu giải trình, nội dung giải trình và việc thực hiện trách nhiệm giải trình.
6. Cung cấp thông tin không được phép công khai; cung cấp thông tin cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm giải trình.
7. Không lưu trữ, quản lý hồ sơ giải trình theo quy định của pháp luật.
2. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và cá nhân thực thi nhiệm vụ, công vụ
Nghị định sửa đổi, bổ sung Điều 7 của Nghị định số 59/2019/NĐ-CP về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong thực hiện trách nhiệm giải trình.
Điểm mới đáng chú ý là quy định người đứng đầu phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm về trách nhiệm giải trình trong phạm vi quản lý của mình. So với quy định trước đây chỉ tập trung vào việc kiểm tra, xử lý vi phạm của cấp dưới, quy định mới đã nhấn mạnh rõ hơn trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu.
Đồng thời, Nghị định cũng bổ sung trách nhiệm của cá nhân thực thi nhiệm vụ, công vụ. Theo đó, cá nhân có trách nhiệm chủ động thực hiện việc giải trình; cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan; báo cáo người đứng đầu về yêu cầu giải trình và kết quả thực hiện. Cá nhân phải chịu trách nhiệm trước người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trước pháp luật về nội dung giải trình của mình.
3. Bổ sung quy định về xây dựng Khung tiêu chí và Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình
Nghị định bổ sung Điều 7a quy định trách nhiệm xây dựng Khung tiêu chí và Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình.
Theo quy định, Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm ban hành Khung tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; làm cơ sở để các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá áp dụng đối với ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý.
Nội dung đánh giá tập trung vào các nhóm tiêu chí như: mức độ đầy đủ, kịp thời và chính xác của việc giải trình; việc tuân thủ trình tự, thủ tục; mức độ công khai, minh bạch; khả năng đáp ứng yêu cầu giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cũng như việc phát hiện, xử lý các vi phạm trong quá trình thực hiện trách nhiệm giải trình.
Kết quả đánh giá phải được công khai theo quy định của pháp luật và là căn cứ để xem xét, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan.
4. Quy định rõ thẩm quyền của cơ quan thanh tra trong xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng
Một nội dung mới quan trọng khác là việc bổ sung Chương Va gồm các Điều 39a, 39b, 39c, 39d và 39đ nhằm xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan thanh tra trong xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Cụ thể:
Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng đối với người giữ chức vụ từ Thứ trưởng trở lên; người công tác tại bộ, cơ quan ngang bộ, doanh nghiệp do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý; người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương…
Thanh tra Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền đối với người công tác tại cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.
Thanh tra tỉnh có thẩm quyền đối với người công tác tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
Bên cạnh đó, Điều 39đ của Chương này cũng quy định rõ trách nhiệm khi thanh tra, các cơ quan phải làm rõ hành vi tham nhũng, thiệt hại kinh tế, vai trò của người đứng đầu và kiến nghị hình thức xử lý cũng như các biện pháp xử lý tài sản tham nhũng.











