Tại Chương X dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, gồm 03 mục: hồ sơ địa chính; đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản gắn liến với đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. So với Luật Đất đai năm 2013, nội dung này được quy định tại Chương 7, gồm 2 mục là đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản gắn liến với đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (không có mục hồ sơ địa chính). Một số nội dung góp ý đối với chương này tại dự thảo Luật Đất đai như sau:
Trong năm 2022, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung tham mưu Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng, ban hành các văn bản nhằm triển khai, cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao địa phương quy định chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương; quy định các chính sách, biện pháp nhằm đảm bảo thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (sau đây viết tắt là dự thảo Luật) cơ bản kế thừa và hoàn thiện thêm các quy định liên quan đến việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; bán, mua tài sản gắn liền với đất và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm. Để đầy đủ và thuận lợi hơn khi áp dụng pháp luật, tác giả kiến nghị làm rõ một số nội dung sau đây tại dự thảo Luật:
Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính của người có thẩm quyền xử phạt thời gian qua cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được thì việc thực hiện các quy định về quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm của cơ quan, người có thẩm quyền vẫn còn hạn chế, chưa đảm bảo đúng quy định của pháp luật:
Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về chứng thực đã khẳng định giá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính, chữ ký được chứng thực và hợp đồng, giao dịch được chứng thựcGiá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính, chữ ký được chứng thực và hợp đồng, giao dịch được chứng thực; đồng thời quy định giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản đã được chứng thực không đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề liên quan chưa được quy định, gây khó khăn, lúng túng trong áp dụng pháp luật, trong đó có trường hợp văn bản do công chứng viên chứng thực.
Theo quy định, tài sản thi hành án dân sự có trường hợp bắt buộc phải áp dụng hình thức bán đấu giá tài sản. Việc đấu giá tài sản phải thực hiện theo trình tự, thủ tục của Luật Đấu giá tài sản. Bài viết phân tích quy trình đấu giá tài sản theo Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và Luật Thi hành án dân sự để làm rõ các nội dung liên quan giữa hai Luật này trong đấu giá tài sản.
Theo quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (viết tắt là Luật Thi hành án dân sự) thì kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án. Đối với tài sản đã kê biên thì được bán theo các hình thức: Bán đấu giá và bán không qua thủ tục đấu giá. Trong đó, tài sản bán không qua thủ tục đấu giá do chấp hành viên thực hiện đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng. Như vậy, với tài sản còn lại phải bán qua thủ tục đấu giá. Quy định này tương thích với điểm đ khoản 1 Điều 4 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 là tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự phải bán thông qua đấu giá.
