Theo quy định tại Điều 117 Luật Nhà ở năm 2014 thì giao dịch về nhà ở bao gồm các hình thức mua bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ và ủy quyền quản lý nhà ở. Việc giao dịch liên quan đến nhà ở cần bảo đảm các điều kiện về đối tượng giao dịch (nhà ở, hợp đồng mua bán nhà ở thương mại) theo quy định.
Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014, các đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc các trường hợp: tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (gọi chung là tổ chức nước ngoài). Với đối tượng đa dạng như trên, khi tham gia vào các giao dịch về nhà ở, các chủ thể (bên bán và bên mua) phải bảo đảm các điều kiện theo quy định.
Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực; trừ trường hợp một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên. Bài viết đề cập đến các điều kiện thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất cần lưu ý khi thực hiện công chứng các văn bản giao dịch liên quan đến các nội dung này.
Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa quan trọng trong xem xét tính pháp lý của các hợp đồng, giao dịch và các vấn đề có liên quan khác của vợ chồng. Bài viết phân tích căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng và một số vấn đề trao đổi để hoàn thiện về thể chế.
Trong giao dịch dân sự, việc xác định tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể tham gia quan hệ dân sự và các vấn đề liên quan khác đến tài sản. Để chứng minh về tình trạng hôn nhân, phải có các giấy tờ liên quan được pháp luật về hộ tịch quy định.
Chủ thể là pháp nhân là doanh nghiệp khi tham gia các giao dịch dân sự phải có các giấy tờ chứng minh. Đồng thời, việc xác định người có thẩm quyền ký hợp đồng, giao dịch phải chính xác để đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng, giao dịch.
Việc xác định chủ thế trong tham gia các quan hệ dân sự là yếu tố quan trọng để xem xét các quyền và nghĩa vụ của họ theo đúng quy định pháp luật. Đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam sinh sống lâu dài ở nước ngoài có những vướng mắc liên quan đến xác định yếu tố cư trú ở nước ngoài.
